BIẾT CÓ MÙA XUÂN

Thủy Lâm Synh  

Việt nam ngày... tháng ... năm...85 Anh N. thân mến, Hơn hai mươi năm xa cách, tôi không thể h́nh dung anh ra sao bây giờ. Tôi không ngờ anh c̣n nhớ đến tôi, đến một thằng bạn thời niên thiếu. Tôi đă nhận được một trăm đô của anh gởi về. Cầm món quà trong tay tôi cảm động đến rưng nước mắt anh ạ. Tôi đang nghĩ về anh với ngược ḍng tư tưởng đến thuở chúng ta c̣n thơ. Anh N.! Tôi ở tù về được 4 năm rồi v́ tôi là lính “ngụy”, tôi có tội với “cách mạng”. Vợ tôi nay đă là vợ của một cán bộ. Mấy con tôi đang ở với mẹ nó, với dượng cha nó. Chúng là những thiếu niên lao động tốt, chúng học một buổi và đi lượm giấy vụn, ve chai một buổi, nên được choàng khăn quàng đỏ và được gọi cháu ngoan “bác Hồ”. C̣n tôi! Đời đă dành một phũ phàng cay đắng. Khi nội tôi mất, tôi bỏ làng lên tỉnh và lưu lạc vào Qui nhơn t́m kế sinh nhai. Tôi đi đánh giày, đi phụ xe, đi chôm chỉa đồ đạc của ai sơ hở. Tóm lại, không có nghề nào mà tôi không làm thử suốt bảy năm lang bạt quê người. Kết quả tôi bị bắt v́ liên can đến một vụ làm căn cước giả cho thanh niên trốn lính. Sau đó ông chủ Ga-ra Hải Cơ lo luật sư cho tôi về và làm phụ thợ máy cho ông ta. Tưởng ở đời này luôn có người tốt bụng, không ngờ đứa con gái ông ta mang bầu, ổng muốn tôi làm tác giả rồi tiện gả luôn cho tôi để đỡ tiếng tăm. Tôi miễn cưỡng đồng ư cốt để có cơ hội bỏ đi, nhưng vợ tôi là người rất tốt, nàng lại yêu tôi thật ḷng sau khi nhận ra bộ mặt thật của gă sở khanh kia nên tôi bỏ ư định xa nàng. Chúng tôi sống chung với nhau có thêm hai đứa con nữa. Sau đó tôi bị bắt lính rồi bị thương nhẹ được giải ngũ, nhưng tôi từ chối v́ thích cuộc đời binh nghiệp. Và có lẽ đó cũng là lư do sau khi miền nam đổi chủ, tôi bị đày hơn bốn năm trong tù với chức vụ “Hạ sĩ Ngụy quân Saigon”. Trong tù th́ không nói anh cũng rơ, ăn không no, ngủ thiếu chăn mùng, tôi bị sốt rét liên miên. Anh có thể h́nh dung ra cái khổ, nhưng cũng không khổ bằng khi được tha về đến nhà th́ cái ǵ cũng thuộc của người khác. Tôi đang bơ vơ không nơi nương tựa, đă vậy c̣n bị dọa quản thúc nếu c̣n có ư định đến thăm con tôi. Anh N.! Có lẽ tôi đă vụng tu từ kiếp nào nên kiếp này truân chuyên khổ ải. Từ lúc góp mặt với đời tôi gặp toàn thương đau. Dù chỉ vài ngày nữa là đến Tết nhưng với tôi đời làm ǵ có được một mùa xuân hở anh. Ngần ấy về anh, cám ơn những ưu ái anh đă dành cho tôi. Mong anh an vui trên bước đường tha phương giong ruổi. Nếu anh đă lập gia đ́nh, cho tôi có lời thăm chị và các cháu. Hiện tại tôi chưa biết ở đâu nên chưa có địa chỉ gởi anh. Thân mến Nguyễn Phụng (Phụng ḷi xỉ) Đọc xong thư Phụng tôi bàng hoàng buông tiếng thở dài. Điếu thuốc tắt ngụm trên tay từ lúc nào. Tôi đang thả hồn theo tuổi ấu thơ trên quê hương nghèo xơ xác. Đây chiếc cầu ván ọp ẹp bắc qua ng̣i Long Phụng th́ đến làng Vinh Phú. Vinh Phú – nghe cái tên chắc người ta đang h́nh dung ra mức trù phú, sung măn hoặc ít nhất cũng là nơi tiềm tàng văn vật. Thực tế th́ ngược hẳn, cảûnh nghèo “kinh niên” của Vinh Phú không cách ǵ che dấu được. Cả làng chỉ đỏ lên vài mái ngói. Cái tên mỉa mai ấy gắn liền với dải đất khô cằn quanh năm, ốm o cây cỏ. Nhưng thôi, quê hương Việt Nam tôi nhiều làng xác xơ nghèo như thế lắm. Chỉ có điều Vinh Phú là nơi sinh ra Phụng, nó là đứa con trai mồ côi cha, mất đi t́nh mẹ từ tấm bé. Phụng lớn lên trong t́nh thương của bà nội. Cha Phụng chết đi để lại người vợ đang mang bầu lúc tuổi c̣n quá trẻ. Mẹ Phụng cũng có chút nhan sắc nên không thoát khỏi sự cám dỗ t́nh cảm. Sau khi sinh con được sáu tháng bà giao con cho mẹ chồng rồi lặng lẽ bước thêm bước nữa... thật xa, để lại một ít đàm tiếu của láng giềng. Có người rộng lượng th́ bảo rằng cô ấy c̣n trẻ, không lẽ phải suốt đời goá bụa. Có bà không biết lấy ǵ để khen ḿnh nên hễ hàng xóm có việc ǵ là chu mỏ ra chê với cái câu người đời ví von xưa như trái đất: “mẹ ơi mẹ bạc như gà..” Nhưng rồi Phụng vẫn lớn, càng lớn nó càng thông minh. Trong làng ai cũng đồng ư nó thông minh hơn những đưá trẻ cùng tuổi, trong đó có tôi. Tiếc cho hoàn cảnh nên Phụng chỉ có thể học qua loa ở những ông giáo trong làng, trả công thầy bằng những lon gạo, giạ lúa, nhưng không v́ thế mà mất đi vốn liếng sáng tạo và khéo léo. Lúc ấy những đứa học tṛ ở trường công đang học lớp nh́, lớp nhất đôi khi làm thủ công phải nhờ tới đến Phụng. Nếu không nhờ cũng năn nỉ Phụng cố vấn hoặc cung cấp vật liệu. Phụng chế ra những chiếc thuyền con bằng bẹ dừa chạy buồm đẹp như ghe thật. Những chiếc xe hơi làm bằng gỗ mềm; bánh và trục chạy bằng dây thiều cao su đă nói lên trí thông minh của một thằng bé ở nhà quê tuổi mới hơn mười. Phụng c̣n đẽo những thanh kiếm tre để phát cho bạn bè chia phe nhau chơi tṛ giặc giă. Đặc biệt là những trái lưu đạn bằng đất sét do Phụng cung cấp cho cả hai bên, cứ mỗi lần tấn công là bụi bay mù mịt bởi Phụng đă cho đầy tro vào ruột lựu đạn, dĩ nhiên chỉ c̣n thiếu phát ra tiếng nổ. Tụi tôi có đứa gọi nó là Cao Thắng, có thằng bảo là Vũ Công Duệ, nhưng cuối cùng Phụng chỉ đồng ư cái tên “Phụng ḷi xỉ”. Phụng nhận biệt danh nầy cũng phải: hàm răng dưới của nó mọc không trật tự chút nào. Nó nhát gan không cho nhổ đi răng cũ, răng mới không đủ chỗ mọc nên chui ra không hàng, không lối. Mưu sinh của bà cháu Phụng là đổ bánh xèo, làm bánh chén để bán. Cái quán của bà Thi đặt dưới bụi tre là ngàø cằn cỗi trước nhà. Một cái bàn thấp lè tè bằng hai miếng ván tạp, hai cái băng bằng tre do Phụng tự tạo lấy. Khách hàng của bà cháu Phụng phần đông là những người từ miệt biển đi chợ bán cá, bán mắm, chứ những người chung quanh ít khi ăn, cũng có thể họ chẳng có dư tiền để ăn hàng. Giờ rảnh rỗi Phụng c̣n làm chổi rơm để bán, đặt biệt chổi quét bụi bằng bông lúa Phụng làm rất đẹp. Những sợi lạt thanh nhỏ đều đặn thoăn thoắt theo mười ngón tay. Mùa gặt, Phụng thường đi ra đồng xin rạ về đánh tranh để bán cho những người cần lợp nhà. Đánh tranh bằng ba que hom gấp đôi thành sáu, đan vào nhau cho từng nắm rạ chặt chẽ không phải ai cũng làm được. Nh́n thằng bé ngồi đánh tranh một cách nhanh nhẹn ai cũng phục Phụng có tài. Những ngày tháng mưa gió, công việc bán buôn của bà cháu Phụng trở nên ế ẩm, nó phải lội b́ bơm dưới lạch cắm câu, lờ cá để bà cháu có những bữa cơm giản dị qua ngày. II ... Buổi chiều xuống thật nhanh, con đường đất nối liền thôn Vinh Phú tới Long Phụng ghồ ghề, đầy vết chân trâu. Hai bên đường, những đám bắp xanh gầy guộc, đang chống chọi với từng cơn gió bấc. Trên đường từ thị xă về tôi gặp Phụng cũng đang mua giá vềà để ngày hôm sau làm bánh. Xe đạp tôi quá xập xệ nên không cách ǵ chở Phụng được. Tôi xuống dắt xe đạp để hai đứa cùng nhau đi bộ chuyện tṛ. Đi bên Phụng tôi nghe rơ mùi dầu mỡ, mùi hành khử (?), mùi bánh xèo... từ cái áo vải cổ tṛn của nó toát ra. Phụng trạc tuổi tôi nhưng sớm mất mẹ phải sống khổ sở, tôi thương nó quá. Khi chúng tôi về ngang nhà Phụng — nói là nhà chứ thật ra chỉ một túp lều th́ đúng hơn —, Phụng dặn tôi đứng chờ rồi phóng vào bếp đem ra cái bánh xèo cuối cùng gịn đáo để kẹp trong miếng lá chuối, giúi vào tay tôi. Cầm lấy cái bánh xèo, tôi xúc động v́ ḷng tốt của Phụng. Không phải chỉ một lần mà nhiều lần như vậy, hễ vắng tôi đôi ba bữa là nó có quà cho tôi bằng cái bánh xèo cuối cùng thật gịn. Cuộc đời hẩm hiu của Phụng vẫn được khuây khỏa bằng công việc bận rộn. Ngày tết, Phụng mặc đồ sạch, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nó mặc đồ mới. Cũng v́ lẽ đó mà tôi không dám khoe với Phụng những món quà chú, bác tôi cho trong những lần măn niên học. Tôi không hề nhắc đến ba tôi, với những lời thương yêu dù rất b́nh thường, không gợi đến mẹ tôi trong cử chỉ tŕu mến lúc đi xa về. Khi hai đứa chuyện tṛ tôi không dám nói những ǵ tôi có, và như vậy tôi thấy Phụng luôn bằng ḷng với những ǵ nó có. Từ giă Phụng tôi đạp xe về nhà, trời cũng vừa nhá nhem tối. Trên băi cát trắng ở bờ sông, tiếng lũ trẻ c̣n la ó, đùa giỡn chưa chịu về nhà. Năm nay mùa đông về sớm, trời mưa mấy ngày liên tiếp. Túp lều bà cháu Phụng lại dột nặng. Những trận mưa nghiêng dai dẳng xoi lở lói vách đất của dân trong làng Vinh Phú. Gió rít từng cơn thật mạnh làm căn cḥi núp dưới bụi tre của Phụng vốn đă yếu lại càng rung rinh hơn như muốn sập đi bất cứ lúc nào. Trong nhà tiếng mưa dột rớt đều và nhanh như hối thúc xuống những cái nồi đất, cái trả, cái thau đang hứng. Chốc chốc Phụng phải bưng đổ ra trước cửa rồi vội vă đem đặt lại vị trí của nó. Bøà Thi bệnh nằm thở phều phào, thỉnh thoảng đờm trong cổ kéo lên nghe như tiếng đờn nhị chùng dây. Ở làng quê, bệnh th́ nghỉ làm, hái lá xông, nhỏ vào vài giọt dầu khuynh diệp cho xuất mồ hôi, không ăn khoai coi như uống thuốc. Bà Thi húp được miếng cháo lỏng chờ ngày lành chứ không thuốc men ǵ, mà dù có thuốc th́ cũng phải có tiền mới mua được. Điều nầy không hề nằm trong suy nghĩ của bà cháu Phụng. Ngọn đèn dầu hôi lúc mờ lúc tỏ theo hơi gió ḷn qua vách. Đêm hôm nay dài quá. Phụng ngồi bên giường bệnh bà nội nó mà ḷng lo sợ cho cái nhà bị sập mỗi lần luồng gió mạnh ập đến. Tiếng kẽo kẹt rất nhanh của lùm tre, tiếng xào xạc rách bươm của mấy tàu lá chuối, tiếng mưa rơi trên mái... tất cả những thứ ấy đă tạo nên một âm thanh cuồng nộ, hung hăn, như lăm le đè bẹp hai con người một trẻ, một già. Tiếng rên của bà Thi nhỏ dần... nhỏ dần rồi tắt hẳn theo ngàn thứ âm thanh cấu xé bên ngoài. Phụng yên trí nội của nó đă ngủ được sau nhiều đêm cơn bệnh hoành hành. Nó nhè nhẹ đặt mông lên giường, co hai chân phủi vào nhau cho rơi đất cát rồi nằm bên cạnh bà. Nó kéo mí chiếu nhè nhẹ đắp lên người rồiù ngủ cho đến sáng. Trong giấc mơ nó thấy những cái nồi hứng nước đă đầy tràn ra chảy lai láng trên nền nhà, bùn đất nổi lên từng vũng, một bên vách bị mưa xói lỡ lói, rồi căn nhà đổ ập xuống đè lên hai bà cháu. Nó giật ḿnh tung chiếu ngồi dậy, tâm trí vẫn c̣n bàng hoàng. Bên ngoài đă tạnh mưa, gió cũng nhẹ hẵn. Dù đă sáng nhưng trời c̣n đen nghịt. Nước nguồn về lai láng ngập cả cánh đồng. Mực nước mỗi lúc một cao. Phụng mừng lắm v́ con đường thấp sát mặt ruộng bị ngập nước trắng cả. Nó có sẵn chiếc thún g chai lớn, loại chở người của vùng biển. Thúng bị lũng đáy nên người ta tặng cho nó, Phụng lấy chai trám chỗ lũng rồi dùng mỗi mùa mưa để đưa người qua lại cho khỏi ướt đồ đạc. Khách cho bao nhiêu nó cũng nhận, dân trong làng nhau cả, thấy cảnh nó nghèo nên không ai nỡ đi giành công việc “ông lái đ̣” kiếm tiền độ nhật của nó. Thường thường khi lành mạnh, bà Thi dậy rất sớm. Tiếng gà gáy đầu tiên đă thấy bà ngồi hơ tay vào bếp lửa cho ấm. Nấu nồi nước chè tươi, lùi hai củ khoai lang vào tro để bà cháu ăn sáng. Chờ khi gà gáy hồi hai bà đánh thức Phụng dậy đổ gạo đă ngâm vào cối đá xay bột. Công việc giống hệt nhau mỗi ngày. Nhưng mấy hôm nay bệnh liệt giường bà Thi không dậy được, Phụng rón rén leo xuống giường lấy mấy cái nồi hứng nước dột đổ đi rồi nhen lửa nấu cháo cho nội nó. Phụng làm một cách nhẹ nhàng v́ sợ gây tiếng động sẽ làm nội nó thức giấc. Phụng mỉm cười: “nền nhà không bị nước, nội ngủ khỏe đêm qua”. Cháo đă chín. Phụng múc ra tô, rắc chút tiêu bột bưng lên bàn chờ nguội. Ngoài đường, tiếng người đi chợ cười nói, tiếng áo tơi sột soạt. Phụng bước đến giường gọi “Nội... nội ơi”. Nội nó vẫn c̣n say ngủ, nó chồm tới thổi tắt ngọn đèn dầu, ra phía sau lăn cái thúng chai to ra trước ngơ để “đưa đ̣”ø. Chuyến đầu nó kiếm được vài đồng. Khi dắt chiếc thúng trở lại, không thấy ai đợi, Phụng vào nhà th́ gặp bà Toàn đang dắt con ḅ đứng gặm cỏ ướt, bà Toàn hỏi: “Phụng, Bà mày khỏe hông?” Phụng cười: “Chào bà Toàn! Dạ khỏe, bà cháu đă hết bịnh, đêm qua ngủ được tới giờ cũng chưa dậy.” “Người ta đi chợ gần về rồi mà chưa dậy mầy. Để tao vào thăm bả chút.” Bà Toàn cột con ḅ vào gốc keo rồi tới kéo cánh cửa tre nghiêng ḿnh bước lại cạnh giường, nơi bà Thi đang nằm. Bà Toàn giở mí chiếu lên nh́n, bỗng bà thả vội mí chiếu xuống và thụt lùi mấy bước. Cặp mắt bà Thi sâu hoắm đang mở trừng, mặt xám xịt với lớp da nhăn, hai má trũng sâu theo cái miệng móm xọm. Lấy b́nh tĩnh bà Toàn ṃ vào cổ tay bà Thi th́ thấy tay bà Thi lạnh như đồng và mạch tim không c̣n đập nữa. Bà Toàn vội vă bước ra cửa dáo dác t́m Phụng. Nh́n ra bến th́ thấy Phụng đang lấy cái gáo dừa tát nước đọng từ trong thúng ra ngoài, bà Toàn gọi giật lớn tiếng: “Phụng à! Để thúng đó đi, vô đây tao nói cái này!” Sau tiếng dạ lớn, Phụng phóng vội vô nhà hỏi bà Toàn: “Có chuyện ǵ hả bà Toàn?” “Mầy nói chuyện với bà mầy hồi nào?” “Chiều hôm qua nội cháu rên dữ quá, rồi sau đó ngủ im ĺm chớ có nói ǵ đâu!” Ngập ngừng một giây bà Toàn thương hại nói: “Trời ơi! Nội mày qua đời rồi. Mầy vào vuốt mặt cho bả đi. Bả đang đợi mầy trong đó.” Phụng ngu ngơ: “Hả! Qua đời ǵ, đợi cháu cái ǵ?” “Bà mầy chết rồi, nhưng mắt c̣n mở, mầy vào vuốt mặt cho bả nhắm.” Phụng nhào vô ôm mặt bà nội khóc rống lên thảm thiết. Hai chân nó dậm th́nh thịch trên nền nhà. Phụng lăn lộn, giẫy giụa đập tay vào vách đất. Nó khóc than cơ hồ trời đất sụp đổ “nội ơi... nội à... nội bỏ con mà đi... Ai cứu nội tôi... hu hu...!” Tiếng khóc nó khan đi. Tin bà Thi đúc bánh chết lan đi rất nhanh. Cḥm xóm kéo đến thăm, nhưng rơ ràng chẳng biết thăm ai. Có lẽ đến t́m cách giúp đỡ Phụng th́ đúng hơn. Chiều hôm đó, một người lớn tuổi vác tới cái quan tài gỗ tạp, do ông ta quyên tiền mua trên phố Sông Vệ mang về. Cũng chính ông nầy coi ngày chôn cất bà Thi ngày sau đó. Theo sau quan tài bà Thị, là những người láng giềng, cậu bé mười ba tuổi là người độc nhất liên hệ máu mủ với bà Thi. Một buổi chiều ảm đạm bao trùm cái nghĩa trang không có lấy một tấm bia nào. Đă hai mươi năm trôi qua, kể từ khi nhận lá thư đầu của Phụng, một lần nữa tôi lại mất bặt tin. Bao nhiêu lần về thăm quê tôi lân la đến những nơi mà theo tôi có chút hi vọng t́m ra manh mối. Nếu gặp tôi sẽ đăi hắn một chầu bánh xèo. Nhưng hỡi ôi, người mỗi ngày một đông, chúng tôi càng ngày càng trở nên lạc lỏng. Người bạn thuở hàn vi không hiểu giờ đây ra sao? Chiều nay trời Chicago buồn lạ lùng, nỗi cô đơn xoắn lấy tôi. Không c̣n mấy ngày nữa là đến Tết. Ở đây tết cũng buồn nhưng như Phụng – hơn nửa cuộc đời bất hạnh – không biết đến già nó có được một mùa xuân .  

 

Thủy lâm Synh

 

>> TRANG TRUYỆN NGẮN

© by ThuyLamSynh, Alright to Reserved

 

HOME